Đề cương
chương trình đào tạo ngành
Overview in
ENGLISH
![]()
Chuyên ngành: Vật lý Kỹ thuật Y sinh
Mã số: 52-52-73
I. PHẦN GIỚI THIỆU
[Trở về đầu trang]
Xu hướng phát triển khoa học công nghệ trên thế giới và nhu cầu của nền
kinh tế Việt nam hiện nay thể hiện một tính chất rất thời sự: đó là tính liên
ngành trong khoa học công nghệ đòi hỏi hệ thống giáo dục đào tạo phải mau chóng
cung cấp cho xã hội những cán bộ, chuyên viên khoa học có kiến thức tổng hợp của
nhiều ngành liên đới để có thể làm việc hiệu quả trong môi trường sản xuất hiện
đại, đặc biệt trong những lĩnh vực công nghệ cao (hi-tech).
Nhằm mục đích trên, chuyên ngành Vật lý Kỹ thuật hoặc Vật lý ứng dụng đã
được đào tạo trong hệ thống các trường đại học công nghệ nhiều nước trên thế
giới từ bậc đại học đến các cấp độ khác nhau sau đại học, và đáng lưu ý là nội
dung đào tạo chuyên ngành không trùng lắp với những khoa đào tạo truyền thống
như Điện – Điện tử, Cơ khí, Xây dựng… mà thường tập trung vào các chuyên ngành
hẹp liên quan đến công nghệ cao hoặc các liên ngành như: Vật lý kỹ thuật Y sinh,
công nghệ vật liệu hi-tech, công nghệ máy tính, kỹ thuật quang học lượng tử, …
Trường Đại học Bách khoa – Đại học Quốc gia tp.HCM với truyền thống đóng
vai trò trung tâm trong việc đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật các ngành
kỹ thuật và thực hiện chuyển giao công nghệ ở phía Nam hội đủ những điều kiện và
thế mạnh về khả năng uy tín của đội ngũ cán bộ giảng dạy, cũng như các cơ sở vật
chất sẵn có luôn cập nhật mục tiêu và nội dung đào tạo một cách hợp lý theo xu
hướng phát triển của khoa học công nghệ hiện đại. Trong tinh thần đó, được phép
của Đại học Quốc gia TP.HCM và Bộ Giáo dục Đào tạo, nhà trường bắt đầu tuyển
sinh từ niên khóa 2002-2003 cho ngành
VẬT LÝ KỸ THUẬT (Mã số: 52-52-73)
với chuyên ngành đầu tiên
là Vật lý kỹ thuật Y sinh
Ngành Vật lý Kỹ thuật như đã đề cập về thực tế là một ngành kỹ thuật tạo
ra những giao diện liên đới cho những ngành kỹ thuật truyền thống khác trên cơ
sở bổ sung nền tảng khoa học cơ bản (vật lý, toán, tin học) đủ để nắm vững các
công nghệ mới. Ví dụ: chuyên ngành Vật lý kỹ thuật Y sinh là tổng hợp chọn lọc
liên ngành Vật lý, Cơ – Điện tử và Y khoa nhằm sử dụng hiệu quả, thiết kế, chế
tạo các thiết bị hoặc vật liệu tổng hợp ứng dụng trong y khoa; chuyên ngành Kỹ
thuật quang học lượng tử là tổng hợp liên ngành Vật lý quang học, Điện tử viễn
thông, Y sinh học nhằm nghiên cứu triển khai các ứng dụng đa dạng của Laser
trong kỹ thuật, công nghệ viễn thông, y học vv… Nó không có sự trùng lắp với nội
dung đào tạo của trường Đại học Tự nhiên (phát triển hướng nghiên cứu cơ bản)
cũng như Đại học Y Dược (đào tạo kỹ năng y khoa với đối tượng chính là con
người).
Cho nên, với mục tiêu là đào tạo kỹ sư ngành Vật lý Kỹ thuật với yêu cầu
vừa có kiến thức
căn bản vững về khoa học vật lý và công cụ toán - tin học để có khả năng độc lập
nghiên cứu khoa học, vừa có kỹ năng vận dụng
thực hành và công nghệ trong chuyên ngành được đào tạo, có kiến thức tổng quan
về các liên ngành liên quan và có khả năng tiếp cận lĩnh vực công
nghệ cao đáp ứng nhu cầu một số lĩnh vực ứng dụng cần thiết của xã
hội, chương trình đào tạo ngành Vật lý Kỹ thuật tại trường Đại học Bách khoa –
Đại học Quốc gia tp.HCM được thiết kế với triển vọng nắm bắt những xu hướng công
nghệ cao phát triển trong tương lai gần, góp phần xây dựng chương trình đào tạo
của nhà trường thành một chỉnh thể tương xứng với vai trò trung tâm khoa học
hướng công nghệ ở phía Nam.
B) Chuyên ngành Vật lý Kỹ thuật Y
sinh
Vật lý Kỹ thuật Y sinh
(Biomedical Engineering) là một lĩnh vực công nghệ liên ngành ứng dụng các
nguyên lý và phương pháp kỹ thuật (vật lý, cơ khí, điện tử, hóa học, công nghệ
thông tin) trong lĩnh vực y sinh học, đặc biệt trong y khoa. Trong xu hướng phát
triển hiện nay, lĩnh vực này không còn hiểu theo nghĩa hẹp là chỉ có thiết bị
phục vụ chẩn đoán và điều trị, mà còn bao gồm các lĩnh vực về vật liệu sinh học,
trí tuệ nhân tạo trong ứng dụng y sinh, quy trình kỹ thuật hỗ trợ chẩn đoán điều
trị … Cho nên đối
với người kỹ sư Vật lý kỹ thuật Y sinh, phải có sự kết hợp giữa kỹ năng thành
thạo về kỹ thuật với những hiểu biết tương xứng về y sinh học nhằm nâng cao hiệu
quả của công việc.
Với tác động phát triển của cơ điện tử, công
nghệ vật liệu và công nghệ thông tin trong những thập kỷ cuối thế kỷ 20, ngành
Vật lý kỹ thuật Y sinh đã đạt được những thành tựu rực rỡ trên thế giới, đặc
biệt ở Bắc Mỹ thông qua sự ra đời vô số các thiết bị hiện đại ứng dụng trong y
học. Đó cũng là nền tảng cho sự phát triển hệ thống đào tạo và nghiên cứu của
chuyên ngành này ở hầu hết các nước có trình độ khoa học công nghệ tiên tiến,
đặc biệt ở Mỹ, Canada, Nhật, Đức, Ấn độ...
Ở Việt nam, đi đôi với việc nền kinh tế đang
phát triển và mức sống người dân được nâng cao, hệ thống y tế ngày càng được
hiện đại hóa nhằm phục chăm sóc sức khỏe cộng đồng với chất lượng cao hơn. Chính
điều đó xác định sự cần thiết phải đào tạo kịp thời một lớp các kỹ sư Vật lý kỹ
thuật Y sinh để hỗ trợ đội ngũ cán bộ y tế nhằm có thể chủ động thực hiện triệt
để sự hiện đại hóa ngành y tế nói chung.
Sinh viên chọn ngành này trước tiên phải xác
định là người của thế giới kỹ thuật, nhưng cần có sự ham mê được làm việc với
đối tượng là sức khỏe con người và áp dụng công nghệ hiện đại góp phần nâng cao
chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
Người kỹ sư Vật lý kỹ thuật Y sinh sẽ là một
bộ phận không thể thiếu được trong đội ngũ cán bộ y tế,
đảm nhiệm vai trò hướng dẫn sử dụng một cách hiệu quả, phụ trách bảo dưỡng, có
thể vận dụng thiết kế cải tiến các thiết bị y tế mới và hiện đại, tổng hợp kiến
thức liên ngành nhằm đưa ra các quy trình hỗ trợ trong chẩn đoán điều trị, hay
tiến hành các nghiên cứu cơ bản nhằm hỗ trợ giải quyết các vấn đề mới trong y
học. Ngoài ra người kỹ sư Y sinh học có thể làm
việc hiệu quả trong lĩnh vực môi trường, công nghệ thực phẩm, hoặc trong công
nghiệp chế tạo các thiết bị, máy móc sử dụng trong y sinh học.
[Trở
về đầu trang]